TYPO3 là gì?
TYPO3 là một CMS mã nguồn mở. Được phát hành theo GNU General Public License. TYPO3 có thể chạy trên nhiều web server, chẳng hạn như Apache hay IIS, trên nhiều hệ điều hành, trong đó có Linux, Microsoft Windows, OS / 2, FreeBSD hoặc Mac OS X.

Lịch Sử TYPO3
TYPO3 do Kasper Skårhøj “phát minh” từ năm 1999 ở Đan Mạch. Hiện nay có hai phiên bản được phát triển là phiên bản 4.x do Oliver Hader phụ trách và phiên bản 5.x do Robert Lemke phụ trách. TYPO3 hiện có hơn 4500 extensions được viết bởi các nhà phát triển trên thế giới.
Tính Năng
Cùng với các giao diện, chức năng có sẳn và module. TYPO3 có một kho lưu trữ các phần mở rộng. Hơn 4500 phần mở rộng là có sẵn để tải về từ một kho lưu trữ được gọi là mở rộng TYPO3 Repository, hoặc Ter.
TYPO3 bao gồm hai phần Frontend và Back-end. TYPO3 được sử dụng bởi các tác giả và các nhà quản trị trang web dùng để quản lý nội dung cho trang web. TYPO3 có thể chạy trên Apache hay IIS trên hệ điều hành Linux, Microsoft Windows hoặc Mac OS X.
Thiết Kế
Hệ thống sử dụng một ngôn ngữ cấu hình đặc biệt gọi là TypoScript. TypoScript có thể sử dụng để lấy dữ liệu từ cơ sở dữ liệu, xử lý dữ liệu và tạo ra các nội dung web. Thông thường TypoScript bao gồm một template engines có sẵn (như automaketemplate hoặc TemplaVoila). Những template engines tạo ra dựa trên một hoặc nhiều mẫu HTML.
TYPO3 có thể xác định được các loại dữ liệu: văn bản, hình ảnh, văn bản với hình ảnh, html, table, video, danh sách …
TYPO3 sử dụng các trang (Page). Mỗi phần tử có thể xuất hiện cho người dùng thuộc về một trang nhất định. Các trang được phân cấp mà không có giới hạn. Có nhiều loại trang đặc biệt như các shortcut (khi người dùng truy cập vào trang này sẽ hướng (redirect) người dùng đến một trang khác được chỉ định), các điểm gắn kết, URL bên ngoài …
TYPO3 bao gồm hai phần: Frontend và Backend. Frontend dùng để hiển thị nội dung website. Backend dùng để quản lý và thao tác nội dung.
Hầu như mọi thứ trong TYPO3 sử dụng pluggable và extensible. TYPO3 có thể sử dụng phương pháp xác thực nhiều người dùng (như RSA hoặc OpenID) bằng cách cài đặt phần mở rộng (extensions) cho hệ thống chính.
TypoScript
Cú pháp cơ bản:
[objectpath].[attribute] [operator] [value]
Bao gồm các toán tử:
• = Gán giá trị (value)
• < Copy một đối tượng (object)
• =< Chèn một tham chiếu (reference)
• > Loại bỏ đối tượng
Ví dụ:
| page.10 = TEXT page.10.value = Hello World |
Nên chú ý rằng Typoscript không phải là ngôn ngữ lập trình, nhưng nó là một ngôn ngữ cấu hình (configuration) điều đó có nghĩa nó dùng để khai báo. Các mã sau đây sẽ kích hoạt không có hành động trong TYPO3 trong khi nó sẽ kích hoạt việc tạo ra mục và loại bỏ các ngôn ngữ lập trình:
| page.10 = TEXT page.10.value = Hello, world! page.10 > |
Trong ví dụ này một đối tượng TypoScript "page.10" được tạo ra và ngay lập tức bị gỡ bỏ. Nó sẽ loại bỏ ngay đối tượng của "page.10" trước khi thực sự xử lý các đối tượng tạo ra.
Bạn có thể tham khảo chi tiết tại typo3.org