Giới thiệu chung
Máy số hóa 3D là một thiết bị rất mới lần đầu tiên có mặt ở Việt Nam. Hiện nay, mới chỉ có hai trung tâm là Viện CNTT, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam và Viện CNTT, ĐHQG Hà nội đầu tư trang bị máy này. Thiết bị này được dùng để xây dựng các bề mặt vật lý 3D cho một đối tượng nào đó. Kết quả thu được có thể sử dụng trong nhiều lĩnh vực như: thương mại điện tử, xuất bản web, các hiệu ứng phim đặc biệt, các nhân vật trong game, các nghiên cứu về sinh-y học,....
Nguyên tắc cơ bản của máy số hóa 3D Inspeck
Khó khăn chính gặp phải khi muốn thu được các đường thực sự của bề mặt, đó chính là thể tích của bề mặt trong không gian. Trong xử lý số hóa tối ưu 3 chiều, máy số hóa yêu cầu các chuỗi ảnh (tương tự như các bản đồ đường mức) để đưa vào xử lý bằng phần mềm mô hình và chuyển thành các vị trí điểm trong không gian. Tất cả bề mặt được hiển thị bởi sensor (cái cảm biến) có thể số hóa trong một ảnh.
Hiện nay, các phương pháp thông thường đòi hỏi phải có hình dạng của bề mặt. Một số phương pháp khác chỉ tối ưu, như là scanning (thường sử dụng các tia laser) khi các ảnh đầu vào là liên tiếp, một điểm hoặc một đường tại một thời điểm. Một số khác nữa dùng máy móc, ví dụ như các bộ cảm biến xúc giác,... Công nghệ trong các máy số hóa Inspeck dùng một công nghệ ánh sáng trắng để thu những thông tin bề mặt và kết cấu tĩnh của đối tượng được số hóa. Khi thu nhận ảnh bằng máy số hóa, người sử dụng sẽ thông báo rằng sơ đồ ánh sáng sẽ là một sơ đồ lưới. Phần mềm FAPS thu những biến dạng của sơ đồ lưới trên bề mặt đối tương. Từ sơ đồ này FAPS có thể tính toán một biểu diễn 3D của bề mặt được chia theo mm. Vì phép chiếu là một sơ đồ dựa trên ánh sáng trên bề mặt được số hóa, điều quan trọng là phải thấy rằng các ánh sáng môi trường, các chất liệu và màu sắc có thể ảnh hưởng tới các kết quả thu được. Dữ liệu sau khi được được xử lý qua phần mềm FAPS, có thể đưa vào phần mềm EM để sắp xếp và tạo thành một mô hình 3D biểu diễn lại đối tượng cần số hóa. Kết quả thu được không chỉ có hình dạng của bề mặt nhìn thấy bởi máy camera mà còn cả các thông tin về màu sắc (kết cấu) trên bề mặt đối tượng. Những thao tác này được làm mà không cần tiếp xúc và chỉ trong một thời gian ngắn, điều này rất thích hợp để số hóa với con người.
Toàn bộ thủ tục cần làm để thu được một mô hình số hóa 3D hoàn chỉnh từ máy số hóa tối ưu đầu tiên yêu cầu các góc nhìn một phần bề mặt đối tượng đa dạng, như là xem từ các góc tuyển chọn, để bao được tất cả bề mặt đối tượng. Ví dụ, khi số hóa một cái đầu, thủ tục thông thường sẽ yêu cầu có ảnh của 7 hướng nhìn: 2 ở đằng trước, 1 cho mỗi bên tai, 2 ở đằng sau gáy và cuối cùng là 1 ở trên đỉnh đầu. Mỗi góc nhìn sẽ là một phần mô hình 3D, và mỗi phần có kết cấu của riêng chúng. Các phần mô hình này được đưa vào một hệ qui chiếu chung và sau đó được register một phần với những phần khác để có được toàn bộ hình dạng của đối tượng. Sau đó chúng được hòa trộn để tạo nên một mô hình đa giác đơn có tất cả các phần bề mặt đã thấy trong suốt quá trình số hóa. Kết cấu của mỗi phần mô hình chỉ hòa trộn (merge) để tạo thành một kết cấu đơn cho mô hình đã trộn, đó là các phần thu lại trong một mô hình 3D hoàn chỉnh.
Các thao tác cài đặt trên máy PC
Cấu hình máy tính yêu cầu:
- Hệ điều hành: Windows 2000 và Windows XP (không tương thích với Win95, Win98 và WinNT)
- Với hệ thống 1 máy số hóa:
- Tối thiểu là PenIII 500 MHz
- Tối thiểu 256MB RAM
- Với hệ thống nhiều hơn 1 máy số hóa:
- Tối thiểu 1GB RAM
- Video card: Nvidia, 3D Labs và ATI
Cài đặt driver cho camera Point Grey Fire Wire
- Cắm dây Fire Wire kết nối từ máy số hóa 3D vào cổng IEEE 1394 của máy tính
- Đưa đĩa cài FAPS vào ổ CDROM
- Lựa chọn cài đặt phần mềm PGRFlyCapture1.3r5.exe
- Khi cài đặt xong, kiểm tra trong phần Device Manager thấy có phần Imaging devices như hình bên là quá trình cài đặt đã thành công.
- Chú ý: Khi cài đặt máy số hóa 3D cần đặt máy ở chế độ ON.
Cài đặt và cấu hình phần mềm Inspeck FAPS
- Đưa đĩa cài FAPS vào ổ CDROM và thực hiện cài đặt.
- Khi cài đặt xong, hãy lựa chọn khởi động chương trình bằng cách chọn: Start → Programs → Inspeck → FAPS
- Để cấu hình các tùy chọn của phần mềm FAPS, hãy lựa chọn thực đơn Config. Thực đơn Config tập trung vào các chức năng sửa đổi của phần mềm và các lựa chọn của hệ thống phần cứng. Các thành phần có mặt ở đây gồm Options, Select Systems, Multiplexer và Reset Hardware.
- Thành phần Option cho phép người dùng truy nhập tới các hộp thoại để người dùng thay đổi các phản ứng của phần mềm
- Thành phần Select System cho phép người dùng chọn một mô tả phần cứng mới và một tệp thông tin cho mỗi máy quét.
- Thành phần Multiplexer được dùng để cấu hình cổng kết nối bộ trộn kênh và bộ đoạt khung. Cổng kết nối này chỉ làm việc khi hệ thống được thiết kế có từ 2 máy số hóa 3D trở lên.
Dùng lựa chọn này khi dùng 2 máy số hóa.Chọn cổng cho máy số hóa thứ 1Chọn cổng cho máy số hóa thứ 2
Tất cả cấu hình đã chọn trong cửa sổ hộp thoại này được lưu trong registry. Cấu hình này sẽ không hoạt động nếu các thiết lập phần cứng tương đương không được giữ đúng.
Cài đặt và cấu hình phần mềm Inspeck EM
Để cài đặt và sử dụng được phần mềm này một cách đầy đủ, bạn cần làm theo đúng trình tự sau:
- Đưa đĩa cài FAPS vào ổ CDROM và thực hiện cài đặt.
- Cắm USB dongle vào và thực hiện theo hướng dẫn.
- Dùng USB dongle mỗi khi muốn sử dụng phần mềm EM.
- Nếu cài đặt thành công, chúng ta sẽ khởi động chương trình bằng cách chọn: Start → Program → Inspeck → EM.
Đăng kí điểm đích
Thông thường, các hệ thống Inspeck yêu cầu có một tấm đích “qui ước” (registration target) để người sử dụng có thể đặt trước khoảng cách tính từ hệ thống máy số hóa đến đối tượng. Khoảng cách này sẽ giúp cho máy xác định được kích thước và độ sâu của đối tượng trong quá trình số hóa.
Người dùng sẽ đặt tấm đích ở phía trước các máy số hóa. Điểm quan trọng cần chú ý là ba điểm lớn ở giữa tấm đích để xác định hướng như trong ảnh trên. Quá trình đăng ký sẽ không bị lỗi do đích bị đổi ngược đầu.
Thực hiện thu ảnh bằng chương trình Inspeck FAPS
Điều chỉnh ánh sáng:
Điều này thực sự quan trọng khi hệ thống có ít nhất một máy số hóa, để có được sự cân bằng độ sáng giữa tất cả các máy nhằm đạt được kết quả tốt nhất.
- Để nhận được mức cường độ sáng tốt nhất khi thu ảnh, thì việc thiết lập độ rọi sáng (exposure) của máy quét phải được điều chỉnh cho 2 loại ảnh thu: ảnh vân (fringer) và ảnh chất liệu (texture). Đầu tiên chọn 1 trong những máy quét ở hộp kết hợp. Sau đó chọn theo 4 mức cường độ sáng cần điều chỉnh: normal fringes, lighter density fringes, texture using built-in lighting hoặc texture using ambient lighting. Các thiết lập cường độ sáng có thể làm bằng tay hoặc tự động bằng máy tính bằng cách sử dụng đặc tính tự động điều chỉnh. Chú ý rằng các thiết lập mới sẽ không có tác dụng trực tiếp lên cửa sổ Live video trừ khi máy quét tương ứng đã sẵn sàng chạy ở chế độ Live video.
- Mức cường độ sáng nên đặt ở cho kiểu fringer hiện thời ( bình thường hoặc mật độ sáng cao hơn), phụ thuộc vào việc thiết lập thu (trong thẻ Acquisition của bảng Options). Chọn hoặc bỏ chọn ở Ligher Density để thay đổi giá trị cường độ. Ngay cả với cường độ chất liệu, chỉ cần thiết lập khi Built-In Lighting hoặc Ambient Lighting được chọn như kiểu chất liệu trong việc thiết lập thu ảnh. Chọn hoặc bỏ chọn ở Ambient lighting để lựa chọn kiểu cho việc cài đặt cường độ. Nó không được sử dụng trong kiểu Generate From Fringes.
Cân bằng ánh sáng giữa hai hoặc nhiều máy số hóa 3D trong hệ thống
Inspeck FAPS đưa ra 1 công cụ giúp cho người dùng cân bằng mức độ sáng. Công cụ này có thể sử dụng bằng thực đơn ngữ cảnh Live video (nhấn chuột phải trên cửa sổ Live Video và chọn Show Meters).
Ảnh của công cụ Light Intensity Level Adjustments ở dưới đây
Khi đó trên màn hình live video của từng máy số hóa sẽ hiện lên các điểm neo, và người dùng có thể di chuyển các điểm neo đó để làm thay đổi các ô giá trị trong công cụ Light Intensity Level Adjustments đạt tới cường độ tương đương.
Hiển thị đối tượng
Cách 1:
- Chọn View→Acquisition Control Center
- Chọn nút Show trong Live Video
Cách 2:
- Chọn Plug-in→ SSLE Capture → Capture
- Chọn 1 trong 3 lựa chọn (New Customer, Open Customer, hoặc Setup)
- Trên cửa sổ SSLE 3D Capture chọn Show Video
Thu nhận đối tượng
Cách 1:
- Chọn chức năng Acquisition
- Nhấn nút 1 trong phần Acquisition để thực hiện thu nhận 1 đối tượng và bắt đầu xử lý ngay sau đó. Cần một khoảng thời gian cho 2 lần thu nhận liên tiếp. Bước thu nhận sau sẽ ghi đè lên kết quả của bước thu nhận trước nếu chưa được lưu lại. Nếu muốn lưu dữ liệu thô vừa thu được, trong thẻ Data trong 3D Image Set, kích phải vào 3D Image 1 hoặc file cần ghi và chọn Save (.raw).
- Để đóng Acquisition Center, nhấn nút Hide trong phần Live Video rồi chọn nút Close.
Cách 2:
- Chọn chức năng Set File Name trong phần Capture & Save của Acquisition Control Center.
- Sau khi đặt tên và nhấn vào nút Save, nút Acquire & Save trong box Capture & Save được kích hoạt. Kích vào nút Acquire để thu nhận đối tượng. Cửa sổ nhỏ trong hộp Capture & Save sẽ hỏi bạn cần bao nhiêu bản ghi. Để tiếp tục thu nhận, hãy tiếp tục nhấn vào nút Capture & Save chứ ko phải các nút 1, 2, .., All. Khi các file đã được lưu, chúng được lưu và đánh số bằng các tên có 4 chữ số, từ 0000 – 9999. Để tạm thời bỏ qua việc tự động thu nhận đối tượng, hãy thực hiện việc thu nhận bằng các nút 1, 2, …, All.
- Để đóng Acquisition Center, nhấn nút Hide trong phần Live Video rồi chọn nút Close.
Chú ý: Các góc độ thu nhận ảnh
Có 9 vị trí bắt buộc để tạo ra một mô hình 3D đầy đủ. Hãy làm việc ở các góc khác nhau và bắt đầu từ vị trí thẳng đứng trước mặt, chúng sẽ có thứ tự lần lượt là: 00, 450, 900, 1350, 1800, 2250, 2700, 3150, và vị trí cuối cùng là đỉnh của mô hình. Cần thực hiện theo đúng thứ tự trên, cũng như giảm bớt di chuyển có thể hoặc một thay đổi về cảm xúc trên mặt. Bằng cách này, chúng ta có thể nhận được những kết quả tốt nhất.
Các thao tác chuẩn hóa dữ liệu
Dữ liệu sau khi thu nhận được sẽ trải qua các bước chuẩn hóa dữ liệu. Đây là quá trình rất quan trọng, vì một phần đưa dữ liệu về dạng có thể xử lý được bằng phần mềm EM, hơn nữa là loại bỏ những dữ liệu thừa, làm cho mô hình kết quả tốt nhất có thể. Các bước chuẩn hóa cụ thể gồm có:
- Tiền xử lý: công việc chính của bước này là đưa các điểm đã được đánh dấu trên bảng đích khớp với các điểm thu được trên đối tượng.
- Lọc ra vùng dữ liệu cần thiết: công việc chính của bước này là lọc ra những dữ liệu cần thiết của đối tượng, và loại bỏ đi những dữ liệu thừa trên ảnh thu được.
- Xử lý, lọc và sửa các vùng bị gián đoạn: Các dữ liệu thu được từ hai bước trên có thể có lỗi do nhiều nguyên nhân. Nhiệm vụ của bước này là khắc phục lỗi, sửa những vùng bị gián đoạn trên ảnh thu được và chỉnh sửa lại độ sâu của các phần đối tượng cho đúng.
- Hậu xử lý: nhiệm vụ của bước này là chuyển các ảnh kết quả của bước trước về dạng đơn vị đo (mm) đồng thời xuất đối tượng ra dạng file có thể xử lý được bằng các chương trình khác (vd: EM).
Thực hiện tạo mô hình 3D bằng chương trình Inspeck EM
Để bắt đầu làm việc với các mảnh dữ liệu để dựng lên mô hình đã có từ chương trình FAPS, hãy cắm USB Dongle vào máy tính và thực hiện khởi động chương trình EM.
Gắn các mảnh mô hình
- Trên cửa sổ chương trình EM, chọn thực đơn Tools → Register Models. Để thực hiện gắn các mảnh riêng biệt của mô hình, người sử dụng cần phân tích các vùng chồng lấp giữa các mảnh mô hình, tương tự như là tạo một dây xích giữa các phần 3D đã có.
- Trong hộp thoại Register Models, định nghĩa một phần là Starting Fixed Model và một phần là Movable Model. Khi đó, phần được định nghĩa là Starting Fixel Model này sẽ như một điểm chốt để người dùng gắn mỗi phần vào phần tiếp theo nó.
- Để xây dựng một dây nối giữa hai phần đã chọn, đầu tiên cần đặt ít nhất 3 cặp điểm tham chiếu tương ứng trên mỗi phần để xác định vùng chồng lấp. Khi đặt xong các cặp điểm, hãy nhấn nút Apply trên cửa sổ Register Models để gắn hai phần trên thông qua các cặp điểm đã tạo. Nếu giá trị Average Distance càng gần 0 thì các cặp điểm đã tạo càng tốt. Nếu giá trị này → 0.5 mm thì người sử dụng nên thực hiện những thao tác để có kết quả tốt hơn. Có 3 bước để thực hiện, đó là:
- Nhấn nút Apply Again để phần mềm tự sắp xếp lại 2 phần xem có thể tốt hơn được hay ko.
- Nếu ko, hãy tạo thêm một vài cặp điểm giữa hai phần trên, rồi nhấn nút Apply để xem kết quả có tốt hơn được hay ko.
- Nếu vẫn không đạt, hãy di chuyển điểm đã tạo bằng nút Move trên bảng điều khiển, hoặc xóa một điểm bằng nút Delete One, hoặc xóa cả cặp điểm bằng nút Delete Pairs và thực hiện lại từ đầu.
- Sau khi đã gắn được 2 phần với nhau, đặt trạng thái của phần thứ hai là Fixel Model. Trạng thái của phần tiếp theo gắn với phần hai là Movable Model và thực hiện lại quá trình trên cho tới tất cả các mảnh được gắn nhau.
- Để di chuyển các ảnh chất liệu theo các hướng, hãy chọn nút Translate trên thanh công cụ. Để xem toàn bộ các góc của mô hình thu được, hãy chọn nút Rotate trên thanh công cụ và xem xét tất cả các góc của mô hình bằng nút chuột phải.
Làm mịn mô hình
- Đầu tiên, hãy chọn nút Rotate và nhấn chuột phải để xem và đánh giá lại hiện trạng của toàn bộ mô hình sau bước Register. Chắc chắn bạn sẽ tìm được những lỗi trên mô hình sau bước Register. Nếu những lỗi này lớn, bạn bắt buộc phải thực hiện lại bước Register, nếu không thì bạn có thể dùng công cụ Global Fine Tuning để chỉnh sửa.
- Trên cửa sổ chương trình EM, chọn thực đơn Tools → Global Fine Tuning.
- Khi thực hiện Rotate, bạn đã xác định được những phần cần chỉnh sửa. Dùng công cụ Select trên thanh công cụ và lựa chọn một trong những phần đó và đánh dấu Fixed. Đặt những phần có liên quan đến phần cần chỉnh sửa là Movable. Lúc đó phần được chọn sẽ được thêm vào hộp Fixed Models, còn các phần kia sẽ được đưa vào hộp Movable Models. Sau thao tác này, phần được lựa chọn sẽ được bật sáng màu vàng như hình dưới đây.
- Hộp Average Distance sẽ đưa ra khoảng cách trung bình giữa các phần thực hiện Global Fine Tuning. Nút Set Weights cho bạn đưa thêm hoặc bớt độ quan trọng của các điểm gắn cho các cặp phần cần gắn. Bên dưới 2 nút này là các nút Apply, Apply Again và Close. Khi nhấn nút Apply, chương trình sẽ thực hiện làm khít các mô hình di chuyển được với mô hình đã cố định. Nút Apply All loại bỏ các định nghĩa "Fixed" và "Moveable" bạn đã thực hiện lúc trước. Thay vào đó, nó sẽ dựa vào cây bộ phận đã định nghĩa trong quá trình xử lý gắn và được hiển thị trong cửa plug-in. Starting Fixed Model định nghĩa trong Register Models plug-in sẽ chỉ sửa các phần trong khi xử lý. Sau đó, bằng cách đặt 3 phần lân cận, Global Fine Tuning sẽ gắn lại các phần, giảm dần theo cây bộ phận.
- Hãy thực hiện lại thao tác trên cho tất cả các phần có lỗi đã phát hiện được lúc trước.
- Nhấn nút Close để đóng cửa sổ Global Fine Tuning. Hãy chọn nút Rotate và nhấn chuột phải để xem lại toàn bộ mô hình.
Làm gọn mô hình
Bước này thực chất là loại bỏ các vùng thừa trên mô hình thu được từ bước trước như các đường mép của từng mảnh mô hình, các phần thừa ra gây chồng chéo trên mô hình, các vùng bị kéo dãn,... Các thao tác chỉ đơn giản là dùng các lệnh hoặc nút lựa chọn khác nhau để chọn các vùng dữ liệu cần loại bỏ và nhấn Delete. Các nút lựa chọn có thể tìm trong thanh công cụ; hoặc gọi các lệnh lựa chọn trong thực đơn Edit→ Select.
- Các nút lựa chọn ở đây gồm có:
- Select Edge of Model: lựa chọn các đa giác hoặc các đỉnh trên mép của mô hình. Hàm này được dùng để xóa một lớp các đa giác hoặc các cạnh bao xung quanh các mép của mô hình 3D hoặc để tìm các lỗ trên bề mặt.
- Select All: Lựa chọn toàn bộ các đối tượng trong cửa sổ hiện tại.
- Select Inverse: Nghịch đảo trạng thái lựa chọn của các đối tượng trong cửa sổ hiện tại.
- Các kiểu lựa chọn ở đây gồm có:
- Mouse Select: Chuyển con trỏ chuột sang trạng thái lựa chọn bằng cách nhấn chuột vào đối tượng cần chọn.
- Mouse Select Box: Chuyển con trỏ chuột sang trạng thái lựa chọn kiểu hộp (dùng chuột để tạo một vùng hình chữ nhật bao quanh các đối tượng cần chọn).
- Mouse Select Path: Chuyển con trỏ chuột sang trạng thái lựa chọn kiểu đường (dùng con trỏ chuột để khoanh một vùng bao quanh các đối tượng cần chọn). Với 3 loại lựa chọn này, đối tượng được chọn có thể là các mô hình, các đa giác, các đỉnh hoặc các điểm tham khảo, phụ thuộc vào kiểu lựa chọn đang sử dụng.
Với tất cả các phần đã được sắp xếp và làm gọn dữ liệu, chúng ta đã sẵn sàng để nhập các phần độc lập vào thành một mô hình.
Hợp nhất mô hình
Có hai cách để thực hiện bước này, đó là: Merge Cylindrical (hợp nhất kiểu hình trụ) và Merge Cubic (hợp nhất kiểu hình hộp).
Trong biểu đồ trên, mũi tên chỉ định hướng mà hai phương thức này hợp nhất các mảnh dữ liệu đã sắp xếp với nhau. Nếu Merge Cylindrical thực hiện gắn các mảnh theo khối hình trụ theo chiều mũi tên thì Merge Cubic làm việc trên cả 6 hướng, để hợp nhất tất cả các phần chồng lấp đã gắn với nhau. Dưới đây là các bước chi tiết cần thực hiện ở mỗi cách.
Merge Cylindrical
- Chọn thực đơn Tool → Patch → Merge Cylindrical.
- Trong hộp thoại Patch Merge Cylindrical, nhập các thông tin cho mô hình cần tạo gồm có: tên trong ô Name, số mảnh dùng để ghép lại mô hình trong ô x và y, chọn các mảnh của mô hình vào trong hộp Original Model Name.
- Làm ẩn miếng chỏm đầu để không làm ảnh hưởng đến kết quả hợp nhất các mảnh còn lại. Vì tâm đối tượng xoay quanh trục Y nên ta cần dùng con trỏ chuột để di chuyển các mảnh cho lỗ thủng ở phần đỉnh đầu nằm trên trục Y.
- Chọn tất cả các mảnh trong danh sách ở hộp Original Model Name và nhấn nút Select. Cuối cùng là nhấn nút Apply để phần mềm thực hiện hợp nhất các mảnh đã chọn với nhau.
Merge Cubic
- Chọn thực đơn Tool → Mesh → Merge Cubic.
- Trong hộp thoại Mesh Merge Cubic, thực hiện các thao tác sau
- Đặt tên cho mô hình cần tạo trong ô Name.
- Trong hộp cuộn Original Model Names, chọn tất cả các phần tượng phật. Sau đó, chọn nút Select ở phía dưới của hộp thoại này.
- Hộp Distance biểu diễn độ phân giải của mô hình, cho phép thay đổi các giá trị cho phù hợp.
- Các hộp X, Y và Z hiện số đỉnh trong mỗi chiều tương ứng với khoảng cách đã được nhập trong hộp Distance.
- Phần Layer Tolerance có giá trị mặc định trong Global là 10.0 mm. Nhấn vào nút Define Specific Regions để đặt lại giá trị khác cho ô này.
- Giá trị trong ô Distance của phần Edge Tolerance là giá trị khoảng cách tối đa giữa hai mặt bất kỳ của một lỗ thủng mà người dùng cho phép chương trình được tự động làm khít lại.
- Sau khi nhập toàn bộ những thông số trên, hãy nhấn nút Apply. Khi chương trình thực hiện xong, hãy nhấn nút Close để đóng hộp thoại này lại.
Các thao tác bổ trợ để hoàn thiện mô hình
Mô hình sau bước hợp nhất không thể tránh khỏi những lỗi xuất hiện trên bề mặt. Phần dưới đây xin trình bày một số cách để khắc phục những lỗi đó.
Trên mô hình xuất hiện một số đa giác nhỏ dường như sáng hơn các đa giác xung quanh. Các phần này gọi là các đa giác chồng lấp. Để khắc phục điều này, cần phải thực hiện các bước sau:
-
- Dùng công cụ Select Path chọn các đa giác này và nhấn nút Delete. Điều này sẽ làm xuất hiện một lỗ hổng thay thế cho vị trí vừa xóa.
- Chọn nút Add Items trên thanh công cụ. Để tạo ra các đa giác, bạn phải chọn 3 đỉnh trên các cạnh của lỗ thủng mà bạn muốn “hàn”. Để chọn các đỉnh, dùng nút chuột trái nhấn vào một đỉnh, và trong khi vẫn giữ nút chuột trái di chuyển con trỏ chuột đi qua 2 đỉnh khác. Khi đỉnh thứ 3 đã được chọn, bạn có thể rời khỏi phím chuột trái. Tại điểm này, 3 đỉnh đã chọn tạo thành 1 đa giác.
- Thực hiện lại hai bước trên cho tất cả những vùng đa giác chồng lấp trên mô hình.
- Làm trơn bề mặt của mô hình
- Trên cửa sổ chương trình chọn thực đơn Tools→Correct Vertices.
-
- Dùng công cụ Zoom Box để phóng to từng vùng của đối tượng nhằm phát hiện những vùng bề mặt có lỗi.
- Dùng nút Select Path để lựa chọn vùng chứa vùng bề mặt có lỗi. Khi vẽ vùng bao, hãy lấy thêm một số vùng ngoài để giúp chương trình tính toán lại vùng bị lỗi cho hợp lý.
- Kéo thanh trượt trên cửa sổ hộp thoại để xác định độ mượt mong muốn. Càng kéo sang phải thì độ mượt yêu cầu càng cao. Nhấn nút Apply trên hộp thoại để yêu cầu chương trình thực hiện tính toán.
- Lặp lại các bước này cho tất cả các vùng phát hiện ra lỗi của mô hình.
- Áp chất liệu:
- Tùy thuộc vào kiểu hợp nhất thực hiện lúc trước để người dùng chọn kiểu áp chất liệu cho phù hợp: Texture → Merge Cylindrial hoặc Texture → Merge Cubic.
- Trong hai kiểu này, hầu như các thực hiện áp chất liệu là giống nhau. Người dùng đặt trên cho mô hình trong ô Name, đặt lại giá trị x và y trong 2 ô tương ứng nếu muốn, rồi chọn nút Apply để thực hiện áp chất liệu, nhấn nút Close để đóng hộp thoại lại.
Đơn giản hóa mô hình
- Để thực hiện được bước này, mô hình bắt buộc phải ở dạng lưới (Mesh). Do đó, nếu mô hình còn ở dạng tấm (Patch) thì người dùng bắt buộc phải chuyển đối tượng về dạng Mesh trước bằng cách chọn Convert→Patch To→Mesh.
- Người dùng có thể kiểm tra các thông số về các thành phần tạo nên đối tượng (đa giác, đỉnh, tọa độ chất liệu,...) bằng cách mở dấu (+) đằng trước tên đối tượng trong cửa sổ quản lý đối tượng.
- Khi đối tượng đã ở dạng Mesh, để thực hiện bước này đầu tiên cần chọn thực đơn Program →Tools→Mesh→Simplify Polygons. Thao tác này nhằm giảm bớt số lượng các thành phần tạo nên đối tượng, giảm nhẹ dung lượng của tệp chứa đối tượng mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh của đối tượng.
- Trên cửa sổ hộp thoại Mesh Simlify Polygons, chọn đối tượng cần thao tác trong danh sách kéo xuống Model to simplify. Có 3 kiểu làm giảm số đa giác của mô hình.
- Angle threhold: chương trình sẽ tìm các góc giữa pháp tuyến của hai đa giác lân cận nhau. Nếu góc đó nhỏ hơn số độ được nhập vào ô tương ứng bên phải, các đa giác đó sẽ bị đơn giản hóa. Khi nút được chọn, phần mềm sẽ giảm số đa giác tới giá trị đã nhập vào trong hộp trong khi cố giữ cấu trúc hình học phức tạp của nó.
- Polygon count: chương trình sẽ tự động loại bỏ đi những đa giác thừa trên mô hình và chỉ giữ lại tối đa số đa giác của mô hinh = số đa giác đã được nhập trong ô Polygon.
- Planar reduction:
- Nếu chọn ô Don’t crate a new model, đối tượng mới sẽ được ghi đẽ lên đối tượng cũ, ngược lại nếu ko chọn ô Don’t create a new model thì kết quả thực hiện sẽ được thể hiện trên một đối tượng mới.
Lưu và xuất kết quả
- Để lưu công việc đã làm, bạn hãy chọn Program Menu→File→Save Scene As…
- Nhập vào tên của và xác định vị trí lưu tệp và nhấn vào nút Save. Thao tác này sẽ lưu mọi thứ bạn đã làm được vào một tệp có phần mở rộng là .SZE. Đấy là định dạng tệp độc quyền InSpeck.
- Để lưu một mô hình riêng lẻ có thể import vào một phần mềm nhóm thứ 3 cần thực hiện: Program Menu→File→Export Model…
- Cửa sổ Choose Model cho phép bạn chọn mô hình hoặc các mô hình bạn muốn kết xuất. Hãy lựa chọn và sau đó nhấn vào nút Save. Tiếp theo, chọn 1 vị trí để lưu và chọn một định dạng tệp. Rồi nhấn OK để kết thúc thao tác.