2.2. Đặc điểm tương đồng và dị biệt về mặt văn hoá của hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc
Học ngoại ngữ trước tiên phải học kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ, nhưng để giao tiếp thuận lợi thì không phải chỉ cần kĩ năng ngôn ngữ mà còn phải có kĩ năng về tri thức lịch sử, văn hoá, phong tục..
Văn hoá Việt Nam và văn hoá Trung Quốc đều thuộc về văn hoá phương Đông. Do đó, xưng hô, chào hỏi, phong tục, tập quán đến cả phương thức tư duy đều có những điểm gần gũi. Văn hoá, lịch sử Trung Quốc và Việt Nam có những mối liên hệ phong phú, tất nhiên cũng có nhiều điểm khác nhau rất tinh tế. Nói chung, những qui định về lễ nghi, phong tục, cách ứng xử của người Trung Quốc ngày nay vẫn còn phức tạp hơn Việt Nam. Điều này cũng có những ảnh hưởng nhất định đến việc học tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc.
Nhìn chung, tiếng Việt và tiếng Hán là các ngôn ngữ tiêu biểu của loại hình ngôn ngữ đơn lập. Chúng có những đặc điểm giống nhau cơ bản là: Từ không có biến đổi hình thái, trật tự từ và hư từ có vai trò quan trọng trong việc diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp. Sinh viên Trung quốc khi học tiếng Việt có lợi thế hơn hẳn sinh viên các nước khác (chẳng hạn sinh viên Nga, Đức, Anh, Mỹ…) chính nhờ trong tiềm thức tư duy đã có sẵn những kiểu cấu trúc lời nói được coi là hiện tượng đồng hình giữa ngôn ngữ bản địa và ngôn ngữ đích. Đây là cơ sở giúp sinh viên Trung Quốc nắm được tiếng Việt khá nhanh trong các kĩ năng nói, nghe, đọc, viết. Tuy nhiên, chính lợi thế này tạo ra những điểm yếu không dễ khắc phục. Ví dụ, khi rèn luyện kĩ năng viết, sinh viên thường mắc các loại lỗi kiểu vượt tuyến hoặc giao thoa theo cách nhìn của lý thuyết phân tích lỗi. Dưới đây là một số dẫn chứng và phân tích cụ thể về sự ảnh hưởng của mối tương đồng dị biệt của ngôn ngữ và của văn hoá của hai quốc gia Việt - Trung đến quá trình học tập tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc.
Ví dụ 1: Văn học dân gian giáo dục cho chúng ta rất nhiều đạo lý làm người.
Ví dụ 2: Bây giờ giáo dục Trung Quốc đã được cải biến rất nhiều.
Ví dụ 3: Anh Quang có lẽ đi chợ bán thịt chó rồi, bạn nếu muốn tìm anh ấy thì đi chợ đi.
Kiểu lỗi về trật tự từ thường gặp ở sinh viên Trung Quốc chủ yếu là do lỗi giao thoa kết hợp với lỗi vượt tuyến. Loại lỗi này xảy ra do sinh viên mượn những tri thức trật tự từ của tiếng mẹ đẻ để cấu tạo lại ở ngôn ngữ đích (tiếng Việt) những thông báo có nội dung tương tự; hoặc lặp lại một số mô hình đã học về trật tự từ để áp dụng cho những câu nội dung mới. Muốn khắc phục loại lỗi này, người dạy cần phân tích cho học sinh những điểm giống nhau và khác nhau cơ bản giữa tiếng Việt và tiếng Trung Quốc.
Ở ví dụ 1, sinh viên dùng sai kết hợp: tính từ + danh từ. Cụ thể là cụm từ “đạo lý làm người” không thể kết hợp trực tiếp với “rất nhiều” mà phải kết hợp gián tiếp qua một danh từ có vai trò làm yếu tố chính của ngữ như “bài học”, “tấm gương”,… Câu trên phải được diễn đạt như sau:
Văn học dân gian giáo dục cho chúng ta rất nhiều bài học về đạo lý làm người.
Ở ví dụ 2, người viết chưa phân biệt được trong trường hợp nào thì danh từ làm chủ ngữ phải có loại từ đi kèm, còn trường hợp nào thì không cần có loại từ. Từ một khung mô hình câu có sẵn thường được rèn luyện khi nó là: D (chủ ngữ) + Đ/T (vị ngữ) (Người Trung Quốc nấu ăn rất ngon, sinh viên Trung Quốc rất thích đọc sách…), người học đã lắp ghép các từ để tạo thành câu mới dựa trên các tri thức được trang bị về ngôn ngữ đích. Kết quả là câu ở ví dụ 2 trở thành câu sai do cụm từ “giáo dục Trung Quốc” là cụm từ có tính mơ hồ, không rõ nghĩa. Nguyên nhân tạo nên tính mơ hồ trong trường hợp này chính là sự tương tác về nghĩa của hai từ “giáo dục” và “Trung Quốc” khi kết hợp với nhau: “Giáo dục” có thể được hiểu là danh từ, quan hệ giữa “giáo dục” và “Trung Quốc” sẽ là quan hệ sở thuộc. Còn khi được hiểu là động từ thì quan hệ này sẽ trở thành quan hệ chi phối (giáo dục ai? giáo dục cái gì cho ai?). Để khắc phục loại lỗi này, cần phải có thao tác làm rõ mối quan hệ của sự kết hợp ấy, nghĩa là cần bổ sung các từ cần thiết vào vị trí trước hoặc sau từ “giáo dục” để danh hoá nó. Có thể làm như sau:
Ví dụ 2a: Bây giờ, nền giáo dục Trung Quốc đã được cải biến rất nhiều.
Ví dụ 2b: Bây giờ, giáo dục ở Trung Quốc đã được cải biến rất nhiều.
Trường hợp mắc lỗi như ở ví dụ 3 là trường hợp ảnh hưởng rất rõ của ngôn ngữ nói. Như trên đã phân tích, ngôn ngữ nói do có đặc điểm là được sự hỗ trợ của các hành vi phi ngôn ngữ nên ít có tính nghiêm ngặt. Trong khi giao tiếp, người nói có thể sử dụng không đúng trật tự kết hợp các yếu tố nhưng người nghe vẫn có thể tiếp nhận nội dung thông báo mà người nói muốn truyền đạt một cách dễ dàng. Ngược lại, trong ngôn ngữ viết, do không có sự hỗ trợ của những hành vi này, các yếu tố ngôn ngữ phải được sử dụng chính xác cả ý nghĩa lẫn trật tự kết hợp mới có thể đảm bảo được hoạt động giao tiếp bình thường. Kiểu lỗi như ở ví dụ 3 chính là hệ quả trực tiếp của việc dạy nghe-nói, trong đó người học chưa chú trọng đến sự khác biệt cơ bản giữa các phong cách chức năng. Nhìn một cách xa hơn thì các cách diễn đạt theo lối khẩu ngữ như vừa đề cập lại bắt nguồn từ kiểu lỗi giao thoa, một kiểu lỗi thường gặp đối với người học ngoại ngữ. Chúng ta so sánh các ví dụ sau:
Ví dụ 4: Nếu rồi thì tôi đến.
Ví dụ 5: Hễ tôi nói là nó khóc.
Ví dụ 6: Hễ tôi nói thì nó khóc.
Trong tiếng Việt khi cấu tạo các loại câu ghép trên thì các từ cặp nối bao giờ cũng xuất hiện ở trước mỗi vế. Trong tiếng Trung Quốc thì khác hẳn. Các cặp nối lại xuất hiện sau khi thành phần C của các nòng cốt C-V. Để hình dung sự khác nhau này, ta có thể sơ đồ hoá các kiểu câu đó như sau:
Tiếng Việt: Nếu C1-V1 thì C2-V2
Tiếng Trung Quốc: C1 nếu - V1 C2 thì V2
Đây chính là nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến những hiện tượng mắc lỗi như ở ví dụ 3.
Ví dụ 7: Nhiều khi chính là những việc nho nhỏ có thể xúc động tới lòng của con người.
Đặc điểm của loại lỗi này là: Về cơ bản người viết chưa hiểu được nghĩa của một số từ khó (ví dụ các từ trừu tượng, từ đa nghĩa…) hoặc chỉ hiểu một vài nét nghĩa của từ nhưng chưa có khả năng vận dụng nó trong các hoàn cảnh khác nhau. Lỗi ở câu trên là do LHS chưa phân biệt được nghĩa của các từ: xúc động, tác động. Đặc biệt LHS chưa có khả năng phân biệt trường hợp “xúc động” là động từ với “xúc động” là danh từ. Khi là động từ, “xúc động” có chức năng là vị ngữ, nhưng chỉ kết hợp được với chủ ngữ là danh từ chỉ người (chỉ kết hợp với chủ ngữ là danh từ chỉ động vật hay sự vật trong trường hợp dùng theo cách nhân hoá). Do đó loại câu này muốn chữa có thể có hai cách:
- Thay từ “xúc động” bằng từ “tác động”.
- Giữ nguyên từ này và thêm động từ vị ngữ vào trước nó.
Khi đó sẽ có các câu như sau:
Ví dụ 7a: Nhiều khi chính những việc nho nhỏ có thể tác động tới lòng người.
Ví dụ 7b: Nhiều khi chính những việc nho nhỏ có thể gây xúc động tới lòng người.
Ví dụ 8: Chùa Thiên Mụ không đẹp hơn ( ) gì cả.
Kiểu lỗi trên là một trong những kiểu lỗi phổ biến mà LHS Trung Quốc mắc phải khi đặt câu với từ cho sẵn hoặc làm bài luận ngắn theo thể thức tự do. Nguyên nhân chính của loại lỗi này là do LHS chưa nắm được những mô hình cấu trúc của các loại câu thường dùng như: câu có từ chỉ hướng vận động, câu so sánh, câu có trạng ngữ chỉ phương tiện. Đối với ví dụ trên, cần tăng cường rèn luyện cho LHS nắm vững mô hình câu so sánh:
A không đẹp hơn B gì cả/chút nào cả.
Nói tóm lại, việc học tiếng Việt đối với sinh viên Trung Quốc về cơ bản là có nhiều thuận lợi do:
- Tiếng Việt và tiếng Hán là những ngôn ngữ thuộc cùng một nhóm loại hình. Vì vậy, việc nắm bắt các đặc điểm về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của tiếng Việt đối với sinh viên Trung Quốc, không gặp những khó khăn như sinh viên thuộc các ngôn ngữ khác…
- Tiếng Việt và tiếng Hán có sự tiếp xúc lâu đời. Việt Nam và Trung Quốc có sự giao lưu và tiếp biến văn hoá từ rất sớm và kéo dài liên tục. Vì vậy trong vốn từ vựng, thành ngữ, tục ngữ cũng có nhiều hiện tượng tương đồng. Đó là một điểm thuận lợi cho sinh viên nắm bắt nghĩa và nghĩa các thành ngữ một cách nhanh chóng.
Ngoài những điểm tương đồng diễn ra trên các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, giữa tiếng Việt và tiếng Trung Quốc còn có một số điểm khác biệt rất đáng lưu ý. Đồng thời cũng có những sự khác biệt về mặt văn hoá.
Tất cả những điểm tương đồng và dị biệt đó đều có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc.