Tổng hợp các bài nghiên cứu về các chất ức chế sinh trưởng, Rademacher (2000) cho biết hiện nay có bốn dạng chất ức chế quá trình sinh tổng hợp GA, bao gồm hợp chất “Onium”, chất dị vòng có chứa chất N, nhóm chất bắt chước cấu trúc của acid 2-oxoglutaric và Nhóm chất 16,17-Dihydro-GA5. Vị trí tác dụng của các chất ức chế trong quá trình sinh tổng hợp GA được trình bày trong Hình 4.7. Các chất ức chế quá trình sinh tổng hợp GA thường không chỉ ảnh hưởng đến quá trình sinh tổng hợp GA mà còn ảnh hưởng đến các chất điều hoà sinh trưởng khác. Điển hình như các chất nầy làm tăng hàm lượng cytokinin nhưng giảm ethylene. ABA cũng tăng đáng kể trong những điều kiện nhất định trong khi auxin thì không ảnh hưởng. Kết quả là nó làm chậm quá trình lão hoá và gia tăng khả năng chống chịu với môi trường (Fletcher và ctv., 1999; Grossmann, 1992). Đối với nhóm triazol như uniconazole hoặc Paclobutrazol cho thấy sự hình thành ethylene cũng giảm do sự ngăn cản của aminocyclopropanecarboxylic acid (ACC). Trên cây lúa mì và cây cải dầu, Prohexadione-Ca làm tăng nồng độ của Cytokinin và ABA trong lúc không làm thay đổi IAA.
* Nhóm chất dị vòng có chứa N
Đặc tính căn bản của nhóm chất nầy là ngăn chặn quá trình cytochrom P450-dependent monooxygenase, bằng cách nầy nó ngăn cản sự oxid hoá ent-kaurene thành ent-kaureonic acid. Nhóm nầy bao gồm các chất Tetracyclacis, Ancymidol, Uniconazole và chất được ứng dụng rộng rãi nhất là Paclobutrazol. Uniconazole có cấu trúc gần giống với Paclobutrazol và rất có hiệu quả trên cây ăn trái, lúa và cây cảnh.
- Đặc tính của Paclobutrazol (PBZ)
Tên hoá học của PBZ là: (2RS,3RS)-1- (4-chlorophenyl)-4,4-dimethylethyl-2-(1H-1,2,4-triazol-l-yl) pentan-3-ol và có công thức hoá học tổng quát là C16H20ClN3O (Hình 4.9). PBZ là chất lưu dẫn có thể được mang lên bằng rễ, đi xuyên qua lỗ thân hoặc cả tế bào chết. PBZ di động trong mô xylem và di chuyển lên bằng sự thoát hơi nước (Charler, 1987). Khi hoà tan vào dịch mô gỗ, PBZ sẽ đi qua từng đoạn thân, nhưng Blake và Quinlan (1991) ghi nhận rằng tế bào của cây táo giữ PBZ lại nhiều hơn cây cherry. Điều nầy đưa đến kết luận rằng sự vận chuyển trong cây tốt là yếu tố xác định độ mẫn cảm đối với PBZ của cây cherry tốt hơn so với cây táo. Trên cây bơ, Zikah và David (1991) nhận thấy PBZ có thể được hấp thu bởi hầu hết các bộ phận của tán cây và rễ và hai ông cũng cho biết rằng PBZ được chuyển chủ yếu đến đến cơ quan sinh trưởng dinh dưỡng, nơi mà nó sẽ tác động làm chậm sự sinh trưởng. PBZ là một chất làm chậm sự tăng trưởng (retardant) thông qua sự ức chế quá trình sinh tổng hợp GA. PBZ có thể được hấp thu qua lá, tán cây, thân và rễ, được di chuyển qua mô xylem đến bên dưới chồi sinh mô. Ở đó nó ngăn cản quá trình sinh tổng hợp GA và làm chậm tốc độ phân chia tế bào, làm cho thực vật trở nên già cỗi hơn làm gia tăng việc sản xuất hoa và nụ trái. Khi nghiên cứu tác động làm chậm sự sinh trưởng của PBZ lên cây táo, Wang và ctv. (1986) nhận thấy rằng khi phun PBZ lên lá ở nồng độ 333 ppm và quét lên thân ở nồng độ 75 g/L thì không có ảnh hưởng lên sự sinh trưởng của chồi và thành phần polysaccharide của vách tế bào trong năm đầu nhưng ở năm tiếp theo thì thành phần polysaccharide của vách tế bào bị biến đổi và làm ức chế sự tăng trưởng của chồi. Khảo sát thành phần polysaccharide của vách tế bào tác giả thấy rằng xử lý PBZ làm tăng tỉ lệ rhamnose, arabinose và acid galacturonic nhưng giảm cellulose và tỉ lệ của các chất trong xylem/libe giảm. Trên cây táo con khi được xử lý PBZ ở nồng độ 0,1 mM bằng cách nhúng trong 1 phút (ngoại trừ phần rễ) 7 ngày trước khi chịu sự khô hạn (water stress), Wang và Steffens (1985) nhận thấy tỉ lệ mất nước của cây được xử lý PBZ chậm hơn, làm giảm sự tổng hợp ethylene, giảm 44% putrescine và 38% spermidine nội sinh. Từ kết quả nầy tác giả cho rằng PBZ có tác dụng làm giảm sự tổng hợp ethylene, ngăn cản sự gia tăng các chất polyamine tự do sinh ra do sự khô hạn như putrescine và spermidine. Khi xử lý PBZ bằng cách tưới vào đất ở liều lượng 2,5 g a.i./cây đã làm giảm sức mạnh của cây xoài khoảng 50% so với đối chứng. Tác động của PBZ đã làm tăng hàm lượng phenolic trong chồi ngọn, làm tăng tỉ lệ mô gỗ trên mô libe trong thân, làm giảm hàm lượng ABA nội sinh và mức độ Cytokinin hoạt động (Iyer và Kurian, 1992).
|
| Hình 4.9 Công thức cấu tạo của Paclobutrazol |
Tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu và sự nhạy cảm của giống, việc xử lý PBZ có thể hiệu quả tạo ra trái mùa nghịch, cho trái sớm, làm giảm hiện tượng cho trái cách năm cũng như những cây ra trái không ổn định (Voon và ctv., 1991). PBZ được sử dụng khá phổ biến ở Thái Lan để kích thích cho xoài ra hoa mùa nghịch hay giúp cho cây ra hoa đồng loạt trong mùa thuận (Tongumpai và ctv., 1991).
- Phương pháp xử lý PBZ
Hiệu quả của PBZ lên sự ra hoa xoài phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, tuổi cây, tuổi lá, khí hậu và kỹ thuật xử lý.
+ Giống: Hiệu quả của PBZ lên sự ra hoa còn phụ thuộc vào từng giống khác nhau (Lyannaz, 1994; Mossak, 1996). Trên giống Nam Dok Mai xử lý PBZ với liều lượng 4 g a.i./cây có hiệu quả kích thích ra hoa cao nhất, trong khi đó trên giống Harumanis (Indonesia), 3,76 g a.i./cây thì đủ liều lượng để kích thích ra hoa (Voon và ctv., 1991).
+ Tuổi lá: Ở Thái Lan, việc xử lý PBZ thường được tiến hành khi đợt đọt thứ nhất có màu xanh sáng, 3-4 tháng tuổi, nếu không xử lý PBZ cây xoài sẽ ra đợt đọt thứ hai (Dokmaihom và ctv.,1996).
+ Kỹ thuật xử lý: Do PBZ có thể được rễ hấp thụ và chuyển lên lá cũng như có thể hấp thụ trực tiếp qua lá nên có thể xử lý hoá chất nầy bằng cách tưới vào đất hay phun lên lá. Tongumpai và ctv. (1997b) áp dụng biện pháp phun PBZ lên lá ở nồng độ từ 1.000-2.000 ppm để kích thích xoài ra hoa trong mùa nghịch ở Thái Lan, kết quả cho thấy việc phun PBZ lên lá làm cho cây xoài ra hoa sớm hơn đối chứng từ 29 - 41 ngày. Trong khi đó biện pháp xử lý PBZ bằng cách tưới vào đất với liều lượng từ 1-2 g a.i./m đường kính tán cây được nhiều tác giả công bố. Để tính liều lượng áp dụng PBZ bằng phương pháp tưới vào đất, González và Blaikie (2003) không những dựa vào đường kính tán cây mà còn dựa vào chiều cao cây và hệ số 1,25. Công thức tính toán cụ thể như sau: nồng độ PBZ (g a.i./cây) = [chiều cao cây + trung bình đường kính tán]/2*1,25. Áp dụng nồng độ PBZ theo cách tính nầy đã khắc phục được tình trạng ra hoa không ổn định của giống xoài Kensington Pride và đạt năng suất cao gấp 2-3 lần so với đối chứng. Sergent và ctv. (1997) cho biết tưới vào đất ở liều lượng độ 15 g a.i./cây kích thích ra hoa và giúp cho cây xoài khắc phục được hiện tượng ra trái cách năm trên giống xoài Haden. Trần Văn Hâu (1997) tưới gốc ở liều lượng 5 g a.i./cây trên xoài cát Hoà Lộc 8 năm tuổi trong mùa nghịch làm tăng tỉ lệ ra hoa và năng suất gấp hai lần so với đối chứng. Tuy nhiên, Rademacher (2000) cho biết PBZ được vận chuyển hầu như hoàn toàn trong cây nhưng hấp thụ tương đối kém ở các bộ phận của chồi nên tưới vào đất là biện pháp áp dụng đạt kết quả hơn.
Nhằm xác định phương pháp xử lý PBZ hiệu quả nhất, Buronkar và Gunjate (1993) đã so sánh hiệu quả của hai phương pháp xử lý PBZ là phun lên lá ở nồng độ 500, 1.000 và 2.000 ppm và tưới vào gốc ở liều lượng 5 và 10 g a.i./cây trên sự ra trái cách năm của cây xoài Alphonso 16 năm tuổi trong 3 năm liên tục. Kết quả cho thấy rằng ngoại trừ biện pháp phun lên lá ở nồng độ 500 ppm không có hiệu quả so với đối chứng, cả hai biện pháp xử lý của PBZ đều làm cho cây xoài ra hoa sớm hơn so với đối chứng 3-4 tuần, tỉ lệ ra hoa, năng suất cao hơn 2,6 lần và làm giảm đặc tính ra trái cách năm nhưng không làm ảnh hưởng đặc tính của trái. Tuy vậy, biện pháp xử lý tưới vào gốc có nhiều tiện lợi, dễ áp dụng và ít chi phí hơn so với biện pháp phun lên lá (Burondkar and Gunjate, 1993; Burondkar và ctv., 1997) và có hiệu quả làm tăng sự ra hoa và năng suất (Winston, 1992). Qua thí nghiệm xử lý ra hoa cho xoài Khiew-Savoey 3 năm tuổi bằng cách tưới PBZ (6 g/cây) và sau đó kích thích ra hoa bằng Thiourea ở nồng độ 0,5%, Tongumpai và ctv. (1997a) cho rằng quá trình hình thành mầm hoa hoàn tất sau khi xử lý PBZ 90 ngày, nếu kích thích ra hoa sớm hơn thời gian nầy cây chỉ ra chồi hoặc tỉ lệ ra chồi thấp.
- Hiệu quả của PBZ lên sự ra hoa, năng suất và phẩm chất trái
Sự khác nhau cơ bản của PBZ và Nitrat kali lên sự ra hoa xoài là Nitrate kali phá sự miên trạng mầm hoa, thúc đẩy sự phân hoá mầm hoa làm cho hoa phát triển trong khi PBZ thúc đẩy sự hình thành mầm hoa thông qua việc ức chế quá trình sinh tổng hợp GA, làm giảm nồng độ GA ở chồi ngọn (Tongumpai và ctv., 1991). Do đó, Nunẽz-Elisea và ctv. (1993) xử lý PBZ bằng cách phun lên lá ở nồng độ từ 1.000-2.000 ppm trong điều kiện chế độ nhiệt 30oC/25oC (ngày/đêm) cây xoài không ra hoa sau 75 ngày, trong khi nếu xử lý hoá chất trong điều kiện nhiệt độ 18oC/10oC thì cây ra hoa trên 90%. Điều nầy cho thấy rằng nhiệt độ thấp đã làm phá miên trạng và thúc đẩy sự ra hoa. Như vậy, PBZ chỉ có tác dụng thúc đẩy sự hình thành mầm hoa. Trần Văn Hâu (1997) nhận thấy khi xử lý ra hoa cho xoài cát Hoà Lộc 8 năm tuổi ở Cao Lãnh, Đồng Tháp bằng cách tưới Paclobutrazol vào đất ở liều lượng 5 g a.i/cây, cây xoài ra hoa sau 92 ngày mà không cần kích thích ra hoa mặc dù tỉ lệ ra hoa thấp (15,6%). Để xác định thời kỳ phá miên trạng, thúc đẩy sự ra hoa có hiệu quả nhất sau khi xử lý PBZ trên cây xoài Cát Hoà Lộc 5 năm tuổi, Nguyễn Thị Thuỳ Dung (2002) tưới PBZ vào đất ở liều lượng 4 g a.i/cây và sau đó kích thích ra hoa bằng Thiourea ở nồng độ 0,5% ở những thời điểm khác nhau. Kết quả cho thấy rằng kích thích ra hoa ở thời điểm 2 tháng sau khi xử lý PBZ có hiệu quả kích thích ra hoa, nhưng phát hoa ngắn, số hoa/phát thấp nên năng suất thấp hơn so với nghiệm thức kích thích ra hoa ở giai đoạn 3 tháng sau khi phun PBZ.
Kích thích ra hoa xoài Haden 4 năm tuổi bằng cách tưới PBZ vào đất ở các nồng độ 5-15 g a.i./cây, Ferrari và Sergent (1996) nhận thấy tất cả các nghiệm thức có xử lý PBZ đều cho tỉ lệ ra hoa cao hơn, thời gian ra hoa kéo dài hơn so với đối chứng, đặc biệt phát hoa xuất hiện ở dưới chồi ngọn và cả chồi nách mà đều nầy không xuất hiện ở nghiệm thức đối chứng. Trên cây xoài Alphonso 34 năm tuổi, xử lý PBZ vào tháng 7 với liều lượng từ 2,5-10 g a.i./cây giúp cho cây ra hoa sớm hơn cây đối chứng từ 11,4 - 28,8 ngày và đạt tỉ lệ ra hoa 70,3-91,6% so với 3% ở nghiệm thức đối chứng. Kết quả thí nghiệm nầy cho thấy rằng tỉ lệ ra hoa tăng dần khi tăng liều lượng PBZ từ 2,5 g a.i./cây đến 10 g a.i./cây (Burondkar và ctv., 1997). Ở Darwin thuộc miền Bắc nước Úc là vùng có khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ ấm làm cho giống xoài Kensington Pride ra hoa và đậu trái không ổn định. Blaikie và Kulkarni (2002) đã tiến hành khảo sát hiệu quả của việc xử lý PBZ bằng cách tưới vào đất hàng năm sau khi thu hoạch nhằm ức chế sự tổng hợp GA. Kết quả ở năm đầu tiên cho thấy biện pháp nầy đã làm cho cây xoài ra hoa sớm hơn nhiều tuần, hoa ra mạnh hơn và năng suất tăng 50% so với nghiệm thức đối chứng.
Salomon và Reveuni (1994) tìm thấy xử lý PBZ ở liều lượng 20, 60 và 240 mg/cây cho cây xoài 13-1 (xoài dùng làm gốc ghép của Israel) nhân giống từ hột được trồng trong chậu đạt tỉ lệ ra hoa 95-100% trong mùa xuân, 32 tháng sau khi nẩy mầm, tỉ lệ ra hoa không phụ thuộc vào liều lượng PBZ áp dụng so với 25% cây ra hoa ở cây không xử lý PBZ.
Khảo sát sự liên hệ giữa việc xử lý nhiệt độ thấp và phun các chất ức chế tăng trưởng thuộc nhóm triazol như PBZ và Uniconazol (nồng độ 2.000 ppm và 500 ppm, theo thứ tự) lên sự ra hoa xoài Tommy Atkin, Núnẽz-Elisea và ctv. (1993) cho biết việc xử lý hoá chất kết hợp với xử lý nhiệt độ lạnh ở chế độ ngày và đêm 18oC/10oC kích thích ra hoa hơn 90% số chồi so với 74% ở nghiệm thức chỉ xử lý nhiệt độ lạnh và sự kết hợp nhiệt cũng làm cho cây xoài ra hoa sớm hơn nghiệm thức chỉ xử lý nhiệt độ thấp 21 ngày. Trong khi đó, ở nghiệm thức xử lý hoá chất ức chế tăng trưởng trong điều kiện nhiệt độ cao (30oC/25oC) đã làm giảm sự sinh trưởng và chiều dài cơi đọt nhưng không kích thích ra hoa. Điều nầy cho thấy rằng yếu tố nhiệt độ thấp là yếu tố quan trọng quyết định sự ra hoa trên cây xoài. Việc phun các chất ức chế tăng trưởng có tác dụng thúc đẩy sự ra hoa tốt hơn trong điều kiện nhiệt độ thấp nhưng nếu trong điều kiện nhiệt độ cao thì việc xử lý các hoá chất ức chế sinh trưởng như PBZ hay Uniconazol cũng không đem lại hiệu quả mà chỉ làm giảm sự sinh trưởng của cây xoài mà thôi.
Ờ Ấn Độ, Burondkar and Gunjate (1991) cho biết xử lý PBZ ở liều lượng bằng cách tưới vào gốc với liều lượng 6g a.i./cây đã làm tăng tỉ lệ ra hoa trong năm thuận cũng như năm nghịch so với đối chứng. Ở Thái Lan, Charnvichit (1989) cho biết xoài Kiew Savoey ra hoa đầu tiên sau khi xử lý PBZ từ 91-112 ngày. Tuy nhiên trong mùa nghịch cần tiến hành xử lý phá miên trạng mầm hoa hoa bằng Nitrat kali ở giai đoạn 8 - 10 tuần sau khi xử lý PBZ (Voon và ctv., 1991). Trên cây xoài Kiew Savoey 2 năm tuổi xử lý PBZ bằng cách tưới vào đất ở liều lượng 6 g a.i./cây và sau đó phun Nitrate kali ở nồng độ 2% ở giai đoạn 8 và 10 tuần sau khi xử lý PBZ đạt tỉ lệ ra hoa lần lượt là 13,8% và 21,3% (Juthamanee, 1989)
Khi phun PBZ ở nồng độ 2.000 hoặc 3.000 mg/L sẽ làm tăng phẩm chất trái qua việc làm tăng TSS, TA hàm lượng ascorbic acid, hàm lượng carotenoid, tinh bột và tồn trữ được 12 ngày trong điều kiện nhiệt độ phòng (Khader, 1990).
- Ảnh hưởng của PBZ lên năng suất
Từ tác động của PBZ làm tăng tỉ lệ ra hoa và đậu trái dẫn đến làm tăng số trái/cây. Khi xử lý PBZ trên cây xoài Haden 5 năm tuổi ơ liều lượng 15 g a.i./cây, Sergent và ctv. (1997) cho biết kết quả đạt năng suất rất tốt và giảm được hiện tượng ra trái cách năm trên giống xoài nầy. Vuillaume (1991) cũng ghi nhận khi tưới gốc với liều lượng 16 g trên 3 giống xoài Keitt, Brooks và Lippens đã làm tăng số trái và trọng lượng trái trên cây. Voon và ctv. (1991) cho biết cây xoài xử lý PBZ làm tăng số trái/cây nhưng không là giảm kích thước trái. Phun PBZ ở nồng độ 2.000ppm làm tăng số trái/cây (126 trái) cao hơn so với phun Nitrate kali ở nồng độ 2,6% và 1,26% kết hợp với ethephon ở nồng độ 400 ppm trên cây xoài Kiew Savoey (Yotpetch, 1988).
- Ảnh hưởng bất lợi và sự lưu tồn của PBZ
Quan tâm đến những ảnh hưởng bất lợi khi sử dụng PBZ liên tục trong nhiều năm, Rowley (1990) nhận thấy chiều cao cây vãi giảm sau 19 tháng xử lý PBZ bằng cách tưới vào đất. Winston (1992) cho thấy rằng năng suất có khuynh hướng giảm nếu áp dụng PBZ liên tiếp hai năm liền ở cùng một nồng độ. Ở liều lượng lớn hơn 4g a.i./cây làm cho phát hoa ngắn, kết chặt lại một cách không bình thường. Trên cây xoài Thanh Ca 4 năm tuổi xử lý 4 g a.i./cây tương đương với 1 g a.i./m đường kính tán cũng gây ra hiện tượng tương tự (Trần văn Hâu, thông tin cá nhân, chưa xuất bản). Hai ông cũng cho ghi nhận trong hai năm đầu áp dụng PBZ (ngoại trừ việc phun ở nồng độ 500ppm ở năm thứ hai) thì cả hai biện pháp phun lên lá hay tưới vào đất đều thúc đẩy sự ra hoa sớm hơn so với đối chứng nhưng trong năm thứ ba thì biện pháp phun lên lá không có hiệu quả. Do đó, Goguey (1990) kết luận rằng nên sử dụng PBZ trong hai năm liên tục, sau đó nghỉ một năm trước khi bắt đầu một chu kỳ mới.
Ảnh hưởng bất lợi của PBZ lên sự sinh trưởng của cây xoài cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Ap dụng phương pháp tưới vào đất liên tục trong 3 năm ở liều lượng 5 và 10g a.i./cây xoài 16 năm tuổi làm giảm tỉ lệ ra đọt (5,12% so với 48% ở nghiệm thức đối chứng), chiều dài chồi mới xuất hiện ngắn hơn so với đối chứng (12,2 và 11,3 cm so với 19,5 cm) (Buronkar và Gunjate, 1993). Trên cây xoài giống Blanco 1,5 tuổi xử lý PBZ bằng cách phun lên lá (750, 1.125 và 1.500 ppm) hay tưới vào đất (750, 1.500 và 2.250 mg/cây), Werner (1993) tìm thấy ở tất cả các nghiệm thức đều làm giảm kích thước lá. Tác giả cũng nhận thấy việc xử lý PBZ bằng cách tưới vào đất làm ảnh hưởng đến hàm lượng các chất dinh dưỡng trong lá, trong đó, chất P, K và Cu giảm nhưng N, Ca, Mn và Zn thì lại tăng. Trên cây xoài Nam Dok Mai Twai No. 4 Charnvichit và ctv. (1991) tìm thấy rằng ở liều lượng 1,5 g a.i./m đường kính tán có thể làm giảm chiều cao cây và chiều rộng tán lần lượt là 19,3% và 15,8% và thông qua chiều dài của đọt non mới xuất hiện cho thấy ảnh hưởng của PBZ lên sự sinh trưởng kéo dài một năm.
Ngoài ảnh hưởng bất lợi cho cây trồng khi xử lý PBZ thì ảnh hưởng lưu tồn của hoá chất nầy trong đất và trong các bộ phận của cây cũng là một vấn đề quan trọng được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Qua thí nghiệm xử lý PBZ bằng biện pháp tưới vào đất với liều lượng 8 g a.i./cây, phun lên lá ở nồng độ 1.000 ppm dưới điều kiện có và không có che phủ mặt líp và tiêm vào thân với liều lượng 400mg/cây trên cây xoài Nam Dok Mai, Subhadrabandhu và ctv. (1999) nhận thấy PBZ không lưu tồn trong đất nếu xử lý bằng phương pháp tiêm vào thân hoặc phun lên lá mà có che phủ mặt líp, trong khi đó PBZ lưu tồn trong đất 3 tháng khi phun lên lá mà không có che phủ mặt líp và lưu tồn 11 tháng nếu xử lý bằng phương pháp tưới vào đất. Về sự lưu tồn của PBZ trong lá, kết quả nghiên cứu nầy cho thấy rằng mức độ lưu tồn của hoá chất cao nhất khi phun lên lá trong khi phương pháp tưới vào đất hoặc tiêm vào thân thì mức độ lưu tồn rất thấp và tác giả không tìm thấy có sự lưu tồn của hoá chất trên trái xoài qua tất cả các biện pháp xử lý.
Tóm lại, hiện nay PBZ được coi là chất có tác dụng ức chế quá trình sinh tổng hợp GA có hiệu quả nhất và là phương tiện có hiệu quả trong việc kiểm soát sự ra hoa xoài. Tuy vậy, để sản xuất xoài mùa nghịch có hiệu quả Nartvaranant và ctv. (2000) khuyến cáo những kỹ thuật chủ yếu như sau:
Sử dụng PBZ bằng cách phun lên lá hay tưới vào đất ở nồng độ thích hợp.
Sử dụng những giống xoài có đặc tính ra hoa sớm như: Nam Dok Mai Tawai (sớm), Fahlan, Salaya, Chok Anan, và Boon Bun Dan.
Chọn vùng thích hợp có điều kiện nhiệt độ thấp, có sự khô hạn cần thiết và đất phải thoát nước tốt.
Quản lý nước tốt, đặc biệt là rất khó trong mùa mưa
Tuy nhiên, điều cần phải lưu ý là việc kích thích ra hoa chỉ đạt kết quả trên những cây khoẻ, còn những cây không có đủ các chất carbohydrate biến đổi sẽ đáp ứng rất kém với sự xử lý PBZ (Phavaphutanon và ctv., 2000).
|
| Hình 4.10 Xử lý paclobutrazol bằng cách phết vào gốc thân |
|
| Hình 4.11 Phát hoa xoài Thanh Ca bị ảnh hưởng do xử lý paclobutrazol với liều lượng 1 g a.i./m đường kinh tán, tương đương với 40 g/cây lọai Paclobutrazol 10% |