Kiểm tra chi tiết dạng lỗ
Các chi tiết dạng lỗ như xi lanh, lỗ ổ trục khuỷu, ổ trục cam v.v... chịu mài mòn hoặc biến dạng trong quá trình làm việc. Vì vậy, phương pháp kiểm tra các chi tiết dạng lỗ chủ yếu là đo lượng mòn và sai lệch hình dạng.
Nguyên tắc: dựa vào đặc tính mòn và đặc tính biến dạng của chi tiết để chọn vị trí kiểm tra. Ví dụ: đối với xi lanh các vị trí cần kiểm tra là:
Vùng I mòn nhiều theo qui luật.
Vùng II mòn nhiều nếu có bụi.
Vùng III vị trí dưới của xi lanh, ít mòn.
Tại các mặt cắt I-I, II-II, III-III kiểm tra theo các phương 1-1 và 2-2.
Hình 6.4. Vị trí và phương pháp kiểm tra xi lanh
Dụng cụ kiểm tra: thường dùng dụng cụ đo lỗ với đồng hồ so có độ chính xác 0,01mm hoặc panme đo lỗ.
Cách đo: giữ cho cán đồng hồ ở vị trí thẳng đứng, bằng cách lắc qua, lắc lại sao cho kim đồng hồ dao động ít nhất.
So sánh:
Với D0_đường kính trước sửa chữaDI1, DII1, DIII1
DI2, DII2, DIII2
Chọn Dmax để quyết định cốt sửa chữa.
Đối với các chi tiết dạng lỗ khác, dựa vào đặc tính hao mòn, kích thước và yêu cầu độ chính xác của chúng để chọn dụng cụ đo và phương pháp kiểm tra thích hợp:
Hình 6. 5 Đo kiểm tra chi tiết dạng lỗ
Xác định: lượng mòn, độ côn, độ ô van, lượng mòn không đều về một phía (lệch so với đưòng tâm).
Kiểm tra các chi tiết dạng trục
Các chi tiết dạng trục như: trục khuỷu, trục cam, xu páp, đũa đẩy...Đặc điểm hư hỏng của chúng là:
- Mòn các bề mặt làm việc (cổ trục), làm tăng khe hở lắp ghép giữa trục và bạc, giảm áp suất dầu bôi trơn và phát sinh tiếng va đập khi động cơ làm việc.
- Biến dạng: cong, xoắn gây sai lệch góc công tác (đối với trục khuỷu) hoặc vi phạm chế độ lắp ghép giữa trục và bạc do các cổ mất đồng tâm gây nên.
- Kiểm tra vết nứt trên bề mặt ở những vùng chuyển tiếp giữa cổ trục và má. Những nơi có gờ cạch sắc hoặc những rãnh xước tế vi trên bề mặt trục do mỏi.
a. Kiểm tra độ mòn
Kiểm tra ở các cổ biên, cổ chính, cổ lắp bánh răng, cổ lắp ổ bi trục sơ cấp hộp số, chiều dài cổ lắp bạc hạn chế dọc trục...
Hình 6.6. Dụng cụ đo đường kính trục
Dựa vào đặc tính hao mòn, kích thước và yêu cầu độ chính xác của chúng để chọn dụng cụ đo và phương pháp kiểm tra thích hợp:
Ví dụ kiểm tra mòn trục khuỷu: hình 6.7
Hình 6.7. Kiểm tra mòn trục khuỷu |
- Vị trí kiểm tra: chọn tiết diện I-I, II-II cách má khuỷu 5 ÷10mm để đo lượng mòn. Ở mỗi tiết diện kiểm tra theo các phương vuông góc nhau (1-1, 2-2)- Dụng cụ đo: pamme có độ chính xác 1/100 ÷1/1000mm, thước cặp có độ chính xác 1/100mm |
- Xác định: lượng mòn, độ côn, độ ô van, lượng mòn không đều về một phía (lệch so với đưòng tâm). Trên mòn nhiều hơn, sâu hơn so với dưới (động cơ diesel) và ngược lại (động cơ xăng)
b. Kiểm tra cong, xoắn
b1. Trục khuỷu:
- Xác định độ cong:
Chống tâm hai đầu trục khuỷu hoặc đặt 2 cổ 2 đầu lên 2 khôi V. Xoay trục khuỷu 1 vòng, mũi tỳ của đồng hồ so tỳ vào chỗ không mòn (ít mòn) sát lỗ dầu (vì chỗ đó ứng với rãnh của bạc nên không có ma sát) hoặc ở vai trục. Dao động của đồng hồ so sẽ cho ta xác định được độ cong của trục khuỷu.
Hình 6.8. Sơ đồ kiểm tra cong trục khuỷu bằng đồng hồ soa. Sử dụng chống tâm b. Sử dụng 2 khối V
Hình 6.9 Kiểm tra cong trục khuỷu theo độ thở |
Độ cong trục khuỷu còn được xác định theo độ thở trục: . Hình 6.9H1_kích thước giữa hai má khuỷu đo phía dướiH2_kích thước giữa hai má khuỷu đo phía trên |
Hình 6.10 Kiểm tra xoắn trục khuỷu |
- Xác định độ xoắn trục khuỷu: trục khuỷu được gối lên 2 khối V, hình 6.10. Dùng đồng hồ so kiểm tra các cổ 1 và 4 (đối với động cơ 4 xi lanh), hoặc 1 và 6 (đối với động cơ 6 xi lanh) ở đường sinh cao nhất. Hiệu số của 2 lần đo H chia cho bán kính khủyu trục là độ xoắn của trục. tg (rad) |
b2. Kiểm tra cong supap
Sơ đồ kiểm tra như hình 6.11. Khi xu páp bị cong sẽ làm cho đường tâm thân và nấm supap không vuông góc, làm cho xu páp đóng không kín và gây bó kẹt xu páp. Độ không vuông góc (hoặc không đồng tâm) không được vượt quá 0,025mm. Xu páp phải loại bỏ nếu độ mòn thân ≥ 0,1mm, bề dày tán nấm ≤ 0,5mm, hoặc phải nắn lại nếu độ cong thân ≥ 0,03mm.
Hình 6.11. Sơ đồ và dụng cụ kiểm tra cong xu páp1_giá dụng cụ; 2_khối V; 3_giá đồng hồ so; 4_bi tì; 5_tấm cữ; 6,7_các đồng hồ so
Kiểm tra thanh truyền
Cong theo x,y, xoắn theo z.
Lấy đầu to làm chuẩn định vị, kiểm tra đầu nhỏ
| - Dùng đồng hồ so:+ Cong theo y: 1, 2 lệch pha. 1 tăng, 2 giảm hoặc 1 giảm, 2 tăng cùng lượng.+ Cong theo x: 3,4 cùng pha. 3, 4 cùng tăng hoặc cùng giảm và 1, 2 tăng so với chuẩn.+ Xoắn theo z: 3 tăng, 4 giảm hoặc 3 giảm, 4 tăng. |
1 3 2 4Hình 6.12 Kiểm tra cong, xoắn thanh truyền bằng đồng hồ so |
- Dùng V ngắn kiểm tra. Khi cong theo y có khe hở a, khi xoắn theo z có khe hở b. Hình 6.13.
Thường cùng cong và xoắn làm cho kết quả đo bị biến đổi nên phải phân tích trị số đo.
Độ cong cho phép của thanh truyền đối với máy kéo 0,03 ÷ 0,05; đối với ô tô 0,02÷0,03 mm/100mm chiều dài thanh truyền (tính từ đường tâm lỗ đầu to đến đường tâm lỗ đầu nhỏ)
Độ xoắn cho phép đối với thanh truyền máy kéo là 0,05÷0,08mm; ô tô là 0,04÷0,06mm trên 100mm chiều dài.
| Kiểm tra các chi tiết thân hộpThân hộp là những chi tiết có hình dạng, kết cấu phức tạp. Hư hỏng thường do biến dạng vì tải, nhiệt. Dẫn đến cong vênh, tương quan kích thước bị sai lệch: độ phẳng, độ đồng tâm, độ song song, độ vuông góc.a. Kiểm tra độ phẳngCó nhiều phương pháp kiểm tra độ phẳng như:- Phương pháp sai lệch đường: xác định khe hở giữa dụng cụ kiểm tra với bề mặt chi tiết bằng căn lá, cữ hoặc đồng hồ so. Hình 6.14 |
Hình 6.13. Kiểm tra cong, xoắn thanh truyền dùng V ngắn bab |
Chiều dài thước ≥ 2/3 chiều dài chi tiết
Hình 6.14 Kiểm tra độ phẳng
- Phương pháp khe hở sáng: xác định sự lọt ánh sáng qua khe hở giữa dụng cụ kiểm tra mặt và chi tiết khi áp lên nhau.
- Kiểm tra bằng bột màu: xác định độ phẳng chi tiết bằng diện tích bị nhuốm màu khi xoa chi tiết lên bàn rà mặt phẳng có bôi bột màu.
- Phương pháp phân bước: đo chuyển vị của các điểm chuẩn tinh đặc trên bề mặt kiểm tra so với một điểm ban đầu tùy chọn, bằng các dụng cụ: cọc chuẩn, ni-vô, kính ngắm.
- Phương pháp giao thoa ánh sáng: xác định độ không phẳng của các bề mặt nhẵn bóng bằng cách áp thước thuỷ tinh kiểm tra lên bề mặt, lúc này sẽ xuất hiện vân giao thoa, vân thẳng nếu bề mặt thẳng, vân cong nếu bề mặt không phẳng. Trị số độ không phẳng xác định theo tỉ số giữa độ cong và khoảng cách giữa các vân.
- Phương pháp khí động: đo độ không phẳng bằng cách xác định lượng tiêu hao khí nén lọt qua khe giữa đầu đo và mặt phẳng khi dịch chuyển đầu đo trên bề mặt kiểm tra.
Lựa chọn phương pháp kiểm tra phụ thuộc vào kích thước chi tiết và yêu cầu về độ chính xác đạt được. Ví dụ: với những chi tiết nhỏ như thân bộ chế hoà khí, có thể dùng bàn rà mặt phẳng, những chi tiết như thân và nắp động cơ ô tô có thể dùng thước đo độ phẳng với đồng hồ so. Những chi tiết có độ bóng bề mặt cao dùng phương pháp giao thoa ánh sáng. Những chi tiết lớn như như khung xe có thể sử dụng kính ngấm với cọc chuẩn. Trường hợp thiếu dụng cụ đo, nếu không đòi hỏi độ chính xác cao, có thể dùng biện pháp căng dây.
Độ chính xác của các phương pháp kiểm tra được giới thiệu trong bảng 6.1
Bảng 6.1. Phương pháp kiểm tra độ phẳng
| Chiều dài chi tiết (mm) |
Độ chính xác (µm) |
Phương pháp và dụng cụ kiểm tra |
| Đến 250 |
| 1,2 |
Phương pháp giao thoa |
| 2,5 ÷ 12 |
Phương pháp khe hở sáng |
| 12 ÷ 120 |
Phương pháp sai lệch đường |
|
| 250 ÷ 400 |
| 1,6 |
Phương pháp giao thoa |
| 3 ÷ 8 |
Phương pháp khe hở sáng |
| 8 ÷ 60 |
Phương pháp phân bước |
| 25 ÷ 200 |
Phương pháp sai lệch đường |
|
| 400 ÷ 1000 |
| 4 ÷10 |
Phương pháp khe hở sáng |
| 4 ÷ 16 |
Phương pháp khe hở sáng |
| 16 ÷ 320 |
Phương pháp sai lệch đường |
|
| 1000 ÷ 1600 |
| 12 ÷ 50 |
Phương pháp phân bước |
| 12 ÷ 400 |
Phương pháp sai lệch đường |
|
b. Kiểm tra độ đồng tâm
Sơ đồ kiểm tra như hình 6.15
Hình 6.15. Kiểm tra độ đồng tâm các cổ trục động cơ.a). Dùng thước xẻ mặt phẳngb). Dùng trục kiểm tra và đồng hồ so: 1_Côn định vị. 2_Đông hồ so. 3_Các cổ trục cần đo. 4_trục đo
Ở sơ đồ hình 6.15.a sử dụng căn lá đo khe hở tại các vị trí a, b để xác định độ không đồng tâm. Ở sơ đồ hình 6.15.b dùng đồng hồ 2 để xác định độ không đồng tâm.
Trường hợp động cơ ít xi lanh có thể dùng dây căng và thước để kiểm tra độ không đồng tâm của các cổ trục.
c. Kiểm tra song song và vuông góc
- Kiểm tra độ song song giữa hai dãy lỗ: hình 6.16. a) sử dụng hai trục kiểm và côn định vị lồng vào các ổ đầu và cuối của hai hàng lỗ. Đo khoảng cách giữa hai trục tại hai đầu bằng dưỡng, nếu bằng nhau chứng tỏ hai lỗ tâm cần kiểm tra song song và ngược lại. Ví dụ các lỗ cần kiểm tra: lỗ trục khuỷu và lỗ trục cam.
21a)221b)c)Hình 6.16 Kiểm tra độ song song và vuông góc giữa hai hàng lỗa). 1_dưỡng đo, 2_trục chuẩn; b). 1_trục chuẩn có lỗ ở đầu, 2_trục chuẩn có chốt ở đầuc). 1_trục chuẩn; 2_trục có đầu dò.
| - Kiểm tra độ vuông góc giữa các hàng lỗ: hình 6.16 b) sử dụng một trục có lỗ ở đầu và một trục có chốt ở đầu có đường kính vừa khít với lỗ ở trục khia. Nếu chốt trên trục thứ hai xuyên qua được lỗ trên trục thứ nhất thì hai trục vuông góc với nhau. Hoặc sử dụng trục có đầu dò như hình 6.1.6c)- Kiểm tra vuông góc của các cạnh:hình 6.17 |
Hình 6.17 Kiểm tra vuông góc của các cạnh |
a. Kiểm tra lò xo
Lò xo được kiểm tra về độ mòn thân (trong trường hợp thân lò xo bị ma sát với thành lỗ dẫn hướng), kiểm tra các hiện tượng nứt mỏi, gãy và kiểm tra độ đàn hồi của lò xo khi chịu tải. Với các hư hỏng như nứt gãy hoặc mòn vẹt quá 1/3 đường kính dây quấn thì phải loại bỏ. Để kiểm tra độ đàn hồi trước hết phải đo chiều dài lò xo ở trạng thái tự do bằng thước cặp hoặc lò xo mẫu. Sau đó, kiểm tra chiều dài khi chịu tải.
Lò xo mẫuLò xo kiểm traHình 6.18. Các phương pháp kiểm tra lò xo
b. Kiểm tra vòng bi
Vòng bi bị mòn thể hiện độ rơ dọc trục và độ rơ hướng kính.
Kiểm tra rơ dọc trục:
Hình 6.19 Kiểm tra rơ dọc trục của vòng bi
Kiểm tra rơ hướng kính:
Hình 6.20 Kiểm tra rơ hướng kính của vòng bi
c. Kiểm tra bánh răng
Bánh răng thường bị mòn hoặc tróc rỗ bề mặt răng, làm tăng khe hở giữa các răng, vì vậy phát sinh tiếng ồn khi làm việc, hiện tượng nứt chân răng do chèn ép dầu hoặc do chịu tải lớn dẫn đến nguy cơ gãy răng cũng thường xảy ra. Đối với các bánh răng hộp số, do thường xuyên thay đổi vị trí ăn khớp nên dễ bị va đập làm sứt mẻ phần đỉnh răng, làm giảm khả năng chịu tải. Những bánh răng côn như bánh răng chủ động cầu xe và bánh răng trên vỏ hộp vi sai, nếu điều chỉnh độ ăn khớp không chính xác sẽ làm chèn răng, lỏng răng hoặc ăn khớp lệch... đó cũng là nguyên nhân gây ồn hoặc tăng ma sát, tăng mài mòn.
Việc kiểm tra bánh răng khi sửa chữa chủ yếu là kiểm tra mòn, nứt, sứt mẻ răng, kiểm tra độ đồng tâm của vòng tròn chia và tâm trục. Khi lắp ráp, đặc biệt đối với hộp số và cầu xe, cần kiểm tra vết tiếp xúc và điều chỉnh chính xác độ ăn khớp giữa các bánh răng.
Kiểm tra mòn: dùng thước hoặc dưỡng đo răng, hình 6.21 nếu đáy dưỡng đo tỳ sát được vào đỉnh răng chứng tỏ răng đã mòn đến giới hạn.
a)b)Hình 6.21 Kiểm tra mòn răng bằng dưỡng đo răng (a) và thước cặp (b)1_có khe hở giữa dưỡng đo và đỉnh răng thì bánh răng còn dùng được2_không có khe hở giữa dưỡng đo và đỉnh răng: bánh răng phải loại bỏ
Hình 6.22 Đo khe giữa các răng bánh răng trụ |
Có thể kiểm tra mòn răng khi cho bánh răng kiểm tra ăn khớp với một bánh răng mẫu có biên dạng răng chính xác không mòn, sau đó đo khe hở giữa các răng bằng một đồng hồ so hình 6.22.Đặt đầu tỳ của đồng hồ đo vào răng của bánh răng thứ nhất. Bánh rằng này ăn khớp với bánh răng thứ hai. Quay bánh răng thứ nhất (hãm bánh răng thứ hai lại), lựa chọn he hở giữa các răng và đồng thời theo dõi độ xê dịch của kim đồng hồ. Sai lệch các số liệu do đồng hồ chỉ báo là khe hở giữa các răng của cặp bánh răng ăn khớp với nhau. Nếu khe hở không đồng đều thì phải xác định xem bánh răng nào hỏng. |
Muốn vậy, phải tách một bánh răng ra và quay đi 1800 rồi lắp với nhau. Nếu thấy vẫn ăn khớp như cũ thì bánh răng hỏng chính là bánh răng cố định. Nếu trước khi quay bánh răng, khe hở là nhỏ nhất và sau khi quay, khe hở là lớn nhất thì bánh răng quay là bánh răng hỏng, phải thay thế.
Kiểm tra độ không đồng tâm và độ đảo của bánh răng:
Sau khi đã định vị bánh răng trên khối V lăn bằng trục và côn định tâm, đặt vào giữa các rãnh răng chốt kiểm 1 có đường kính phù hợp sao cho chốt tiếp xúc với các bề mặt răng ở vòng tròn chia. Khi quay bánh răng 1800, đồng hồ 2 tì lên chốt kiểm sẽ xác đinh độ không đồng tâm vòng chia và đồng hồ tì lên mặt đầu sẽ xác định độ đảo mặt đầu bánh răng so với đường tâm trục.
Hình 6.23 Kiểm tra độ không đồng tâm và độ đảo của bánh răng